Ký ức đặc biệt về “mưa đỏ” trong cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ

Ký ức đặc biệt về “mưa đỏ” trong cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ


“3 mùa mưa” trong 81 ngày quyết giữ Thành cổ

Chúng tôi hẹn gặp Trung tá Nguyễn Cảnh Lương (SN 1952) tại căn nhà nhỏ của gia đình ông sát quốc lộ 46, đoạn qua xã Vạn An, tỉnh Nghệ An, khi cơn bão số 6 đang áp sát đất liền. Giọng kể của người lính từng trải qua 2 năm chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, trong đó có 81 ngày đêm rực lửa mùa hè 1972 như át cả tiếng mưa xối xả đập vào mái tôn.

“Mùa hè năm ấy, trong Thành cổ Quảng Trị có đến 3 mùa mưa “mưa bom bão đạn của quân thù, mưa của thời tiết với trận lụt lịch sử và mưa đỏ”. Mưa đỏ, chính là máu, là xương, là thân thể của lớp lớp người lính đã ngã xuống trong trận chiến bảo vệ khu thành rộng chỉ 3km2 nhưng có ý nghĩa chiến lược trên bàn đàm phán Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, Trung tá Nguyễn Cảnh Lương đúc kết.

Trung tá Nguyễn Cảnh Lương kể về cuộc chiến 81 ngày đêm quyết giữ Thành cổ Quảng Trị (Ảnh: Hoàng Lam).

Dòng ký ức đưa ông quay trở lại năm 20 tuổi, khi đó, đảng viên trẻ, Bí thư Đoàn thanh niên Hợp tác xã Lam Sơn (xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương cũ, Nghệ An) Nguyễn Cảnh Lương xung phong ra trận. Hành trang anh mang theo là lòng yêu nước, căm thù giặc và kinh nghiệm của những ngày tháng phụ trách khẩu đội súng 12 ly 7 bảo vệ bầu trời quê hương trên đỉnh núi Nguộc.

Sau 3 tháng huấn luyện và một tháng hành quân bộ, ngày 20/6/1972, người lính trẻ Nguyễn Cảnh Lương trong đội hình Đại đội 2, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 27 (Trung đoàn Triệu Hải), Quân khu 4 có mặt trong đội hình vượt sông để sang Thành cổ, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu có tính chất quyết định đến mặt trận ngoại giao cách đó trên dưới 10.000km.

Ngày 28/6/1972, họ chính thức bước vào cuộc chiến đấu giữ Thành. Ngày nối ngày, đêm nối đêm, họ sống, chiến đấu, nằm lại trên khoảng chiến trường chỉ vỏn vẹn 3km2 ấy. Người trước ngã xuống, người sau được bổ sung, chưa kịp biết tên nhau, đơn vị đã “mòn” đi. Hết những ngày hè như nung, da thịt cháy khét mùi thuốc súng, là mưa, mưa “thối trời thối đất”, nước lũ dâng lên ngập cả hầm hào.

Trung tá Nguyễn Cảnh Lương: 81 ngày bảo vệ Thành cổ, lính phải trải qua 3 mùa mưa: “mưa bom bão đạn, mưa tự nhiên và “mưa đỏ”” (Ảnh: Hoàng Lam).

“Năm đó, lũ tràn vào Thành cổ to lắm, chúng tôi ngồi trong hầm, nước bùn ngập đến bụng, đầu đầy chấy, trên da ghét bẩn, đất bám thành từng tấm. Bom đạn vãi xuống như mưa, anh em bị thương, hi sinh, máu trộn với bùn, và đói vì hậu cần không thể tiếp tế vào đến nơi. Trong 81 ngày đêm, thị xã và Thành cổ Quảng Trị phải gánh chịu 328.000 tấn bom đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử Mỹ đã ném xuống Hiroshima Nhật Bản năm 1945.

Trung bình mỗi chiến sỹ của ta phải gánh chịu 100 tấn bom, 200 quả đạn pháo. Những ngày tháng đó, phải nói sức chịu đựng của anh em thật phi thường, nhưng thương vong nhiều quá. Có những người nằm xuống, anh em chôn xong, bom lại cày lên…”, ông bỏ lửng câu nói, nhìn xa xăm vào màn mưa trắng xóa trước cổng nhà.

Ngày 16/8/1972, trong lần tấn công đẩy lùi địch, người lính Nguyễn Cảnh Lương bị thương, khi một mảnh pháo địch trúng đầu. Anh được đưa về trạm phẫu phía sau để điều trị.

Cuộc chiến đưa đồng đội trong lòng địch trở về

Đầu tháng 9/1972, khi vết thương chưa lành hẳn, Trung sỹ Nguyễn Cảnh Lương nằng nặc xin sang sông, tiếp tục chiến đấu. Thành cổ mưa trắng trời, nước lũ sông Thạch Hãn dâng cao, tràn vào hầm, hào. Nhiệm vụ đầu tiên khi có mặt ở đơn vị của ông là cùng 4 đồng đội “đi lấy xác”.

Theo mệnh lệnh của Đại đội trưởng tên Nghiêm, tổ 5 người sẽ có nhiệm vụ vào khu vực chiếm đóng của địch, tìm và đưa 3 liệt sỹ của đơn vị trở về, trong đó có đại đội phó tên Ngọc.

Với những người lính nằm lại trong khu vực đã bị địch vây lấn, một cuộc chiến cũng dữ dội và khốc liệt không kém. Nhưng không thể để anh em nằm lại bên đó, phơi mưa, phơi nắng, dù bên này, đã không còn chỗ trống để an táng liệt sỹ. Những người đi tìm có thể cũng sẽ nằm lại, nhưng không thể không đi.

Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị (Ảnh tư liệu: Đoàn Công Tính).

Từ chập tối, 5 người lặng lẽ lên đường. Họ ẩn mình trong bóng tối, trong lớp đất nhão nhoét, vượt qua những hố bom, hố đạn đặc quánh bùn lầy, nhích từng chút vào sâu trong lòng địch. Dưới sức mạnh bom, đạn hạng nặng của quân thù, địa hình có thể thay đổi chỉ sau một đợt tấn công. Bởi vậy, đến 2h, họ vẫn chưa tìm thấy những người đồng đội của mình, chưa kể có thể lọt vào ổ phục kích của địch bất kể lúc nào.

Mò mẫm mãi, họ khựng lại khi phát hiện 3 đồng đội của mình trên mô đất, được xếp hàng ngang ngay ngắn. Sự bất thường này khiến họ cảnh giác, có thể đây là một cái bẫy được phía bên kia giăng ra…

Anh ra hiệu mọi người tìm nơi ẩn nấp, rồi bò lại gần nơi 3 đồng đội đang nằm, dùng tay để kiểm tra khu vực xung quanh. Đúng như dự đoán, ngay phía trước thi thể thứ nhất là một quả lựu đạn US, được úp bên ngoài bởi vỏ lon sữa. Quả đạn đã tháo chốt, chỉ cần xê dịch, khiến vỏ lon rơi ra là phát nổ, bán kính sát thương lên tới 30m.

Nếu không kịp phát hiện chiếc bẫy đạn này, có thể họ đã hy sinh hoặc trở thành những tấm bia sống để bọn tập kích, thám báo ẩn nấp đâu đó vãi đạn vào…

 Chiếc la bàn của liệt sỹ tên Ngọc được ông Lương gìn giữ đến hôm nay (Ảnh: Hoàng Lam).

Sau khi vô hiệu hóa quả đạn thứ nhất, Trung sỹ Lương nhích dần sát 3 thi thể, phát hiện quả lựu đạn thứ 2 được ngụy trang như cũ, đặt dưới chân thi thể nằm giữa và nhanh chóng vô hiệu hóa nó.

“3 anh em nằm đó, người đầu tiên, khuôn mặt trúng đạn pháo, vỡ toác, không thể nhận diện được. Trong tay anh cầm chiếc la bàn, tôi nghĩ, đây có thể là anh Ngọc, vì thường chỉ có cán bộ cấp đại đội trở lên mới có la bàn để dùng”, người lính già nhớ lại.

5 người không thể đưa 3 thi thể trở về, anh phân công một đồng chí về đơn vị xin bổ sung lực lượng vận tải. Còn lại 2 người vừa kéo vừa đẩy, lựa vào giao thông hào đầy bùn nước để đưa anh em trở về.

Hai kíp nổ tháo từ 2 quả lựu đạn US được ông bàn giao lại cho vị Đại đội trưởng tên Nghiêm, còn chiếc la bàn của người đồng đội ông giữ lại cho đến tận bây giờ.

Đến ngày 16/9/1972, khi lực lượng của ta rút khỏi Thành cổ Quảng Trị, trong 81 ngày đêm, đã có hơn 4.000 người lính nằm lại nơi đây, trong đó riêng đơn vị của ông Lương có 299 người hy sinh.

Trung sỹ – Tiểu đội Trưởng Nguyễn Cảnh Lương cùng Trung đoàn 27 sau đó tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tại thị xã Quảng Trị cho đến ngày 5/10/1973, chuyển sang nhiệm vụ khác. Ông ra Bắc học, sau đó trở lại quân ngũ, công tác đến khi nghỉ hưu với cấp hàm Trung tá.

Ước nguyện của người lính Thành cổ

Chiến tranh đã lùi xa nhưng trong lòng ông vẫn canh cánh nhiều điều, về những người đồng đội, đồng chí của mình, về cả những người ở bên kia chiến tuyến.

Những năm sau này, khi có thời gian và ổn định kinh tế, ông nhiều lần trở lại thăm Quảng Trị, thăm Thành cổ, thắp nén hương cho đồng đội, những người đã sát cánh cùng ông chiến đấu trên mảnh đất này và nằm lại nhưng chưa kịp biết tên nhau.

Những tấm huân, huy chương – minh chứng cho những năm tháng ông Lương đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc (Ảnh: Hoàng Lam).

Chiếc la bàn cũ kỹ của liệt sỹ Ngọc, sau hơn 50 năm, vẫn chỉ đúng hướng, nhưng chủ nhân của nó là ai, giữa hơn 4.000 người nằm lại nơi “cối xay thịt người” mùa hè đỏ lửa năm ấy, luôn là điều khiến ông đau đáu nghĩ về.

Dòng hồi ức đưa ông trở về khoảng thời gian trước khi địch mở cuộc tấn công hòng tái chiếm Thành cổ. Thời điểm đó, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 27 làm nhiệm vụ chốt chặn phía trước, cách vị trí đóng quân của Lữ đoàn 147 – Sư đoàn thủy quân lục chiến của Ngụy một thửa ruộng.

Đó là quãng thời gian hiếm hoi ngừng bắn, người lính 2 bên chiến tuyến thậm chí có thể trò chuyện với nhau và tất nhiên, một cuộc “tâm lý chiến” cũng đã âm thầm diễn ra. Ông nhớ như in, bên kia, có 2 người, một nam, một nữ, người nam tên Tung, người nữ tên Trà My, vẫn thường tìm cách “đánh đòn tâm lý”.

“Họ mang kẹo ra mời chúng tôi, nhưng tôi lịch sự từ chối. Bà ta bảo “thưa ngài, bên các ngài quả thật gan dạ, nhưng nhìn các ngài da vàng quá”. Ý họ bảo quân giải phóng ăn đói, sống khổ nên dụ mình chiêu hàng. Tôi trả lời ngay: “Ồ, anh chị quên rồi sao, dân tộc ta là dân tộc da vàng, gan vàng, dạ sắt”. Bà ta nghe nói vậy liền im lặng, chắp tay trước mặt, ý chừng như bái phục”, ông kể.

Trung tá Nguyễn Cảnh Lương chia sẻ với phóng viên Dân trí (Ảnh: Trung Hiếu).

Trong những ngày thực hiện nhiệm vụ tâm lý chiến, ông Lương đã thuyết phục và giúp tên lính Ngụy phản chiến, vượt phòng tuyến sang vùng giải phóng. Với thành tích này, ông được báo cáo điển hình tại Hội nghị công tác dân vận, địch vận do Trung đoàn tổ chức.

Ông chỉ biết người lính Ngụy phản chiến ấy tên Minh, quê ở Cam Thạch, Cam Lộ, Quảng Trị (cũ). Cũng có thể vì lí do an toàn, anh ta không khai đúng tên, nhưng ông vẫn muốn, nếu có cơ hội sẽ gặp lại anh ta, chỉ để biết, anh ta sống thế nào.

“Những ngày gần đây, xem ti vi, đọc báo, mạng xã hội, tôi thấy họ nói nhiều về phim “Mưa đỏ” và có được xem một số trích đoạn ngắn. Mưa lũ, rồi việc gia đình nên tôi cũng chưa có dịp đi xem.

Nhiều đồng đội của tôi ở các vùng quê xa cũng chưa có cơ hội để xem bộ phim này, giá như họ in thành đĩa, để chúng tôi mua, phát cho anh em xem thì tốt biết mấy”, cựu chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị Nguyễn Cảnh Lương ước ao.

Với thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, ông Nguyễn Cảnh Lương được Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý như: Huân chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Huy chương Chiến sĩ giải phóng… 



Source link: https://dantri.com.vn/xa-hoi/ky-uc-dac-biet-ve-mua-do-trong-cuoc-chien-81-ngay-dem-bao-ve-thanh-co-20250831104659359.htm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *